Thomascook sẩy chân và bài học cho ngành du lịch

Ở Châu Á, nhất là Đông Nam Á, Tập đoàn du lịch lữ hành Thomas Cook (Anh) không phải là một tên tuổi quen thuộc, ngoại trừ với dân trong nghề. Với số lượng khách ít ỏi tới Việt Nam, sự sụp đổ của họ không để lại di chứng.  Nhưng câu chuyện xoay quanh Thomas Cook lại là những bài học thú vị trong ngành du lịch.

 

“Thomas  phá sản để lại 150.000 khách kẹt ở nước ngoài”, “Thomas Cook yêu cầu sự trợ giúp của chính phủ”, “Các khách sạn ở Tunisia đang yêu cầu khách trả tiền trực tiếp”. Những dòng tít trang nhất được các phương tiện truyền thông danh tiếng như BBC, The Gủadian làm dậy sóng thị trường du lịch châu Âu. Với danh tiếng hàng trăm năm, vụ sẩy chân này của Thomas Cook là cú sốc lớn.

HÀNG KHÔNG – CUỘC CHƠI CÓ QUÁ TẦM?

Vài thập kỷ trước, trên thếgiới có 2 trào lưu trái ngược nhau . Ở chiều thứ nhất, các hãng hàng không trong sức ép cạnh tranh và không muốn tận dụng khai thác tập khách khổng lồ của mình, đã thiết lập phân nhánh lữ hành, cung cấp thêm các dịch vụ thiết yếu như phòng và vận chuyển. Có thể kể tới như Virgin Holidays, Qantas Holidays, Emirates Holidays. Ở chiều ngược lại, các hãng lữ hành lớn, với ước mơ làm chủ thế trận và nâng cao hiệu suất kinh doanh, tự đầu tư thành lập hãng hàng không với quy mô không hề nhỏ: TUIfly, Jet2 và không thể không nhắc tới Thomas cook.

Trong khi trào lưu trên hạ nhiệt thì tại Việt Nam, một thị trường mới nổi, xu hướng này bắt đầu bùng nổ. Chỉ riêng năm 2019 có tới 4 hãng ráo riết vận động giấy phép bay, một nửa trong số đó xuất thân từ công ty du lịch, chẳng hạn Vietravel Airlines và Hãng hàng không Cánh Diều (Kite Air) của Công ty cổ phần du lịch Thiên Minh.

Cuộc chơi hàng không chưa bao giờ dễ dàng. Theo báo cáo tài chính năm 2018 Thomas Cook Airline có tỷ suất lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT margin) 3,7%, thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung của Châu Âu (6,2%) và thế giới (5,8%).
Mảng kinh doanh lữ hành dù doanh số lên tới gần 7,4 tỷ bảng Anh nhưng có EBIT margin còn tệ hơn là 2,2%, dù tỷ suất lợi nhuận gộp (gross margin) đạt tới 13,5%.
Có thể thấy chi phí quản lý doanh nghiệp hoặc chi phí tài chính quá lớn và có lẽ đã vượt tầm kiểm soát.
Trong kế hoạch đa dạng hóa ngành nghề, Vietravel, công ty hàng đầu về cả khách outbound (du lịch nước ngoài) và inbound (nội địa), đã thành lập hãng hàng không của riêng mình. Với lựa chọn bay thuê chuyến ( charter) và giờ đêm, công ty đang cố gắng tránh đối đầu các “ông lớn”. Nhưng bất luận điều gì xảy ra, top 3 hãng hàng không ở Việt Nam – Việt Nam Airlines, Vietjet và Bamboo Airway –  chắc sẽ không sẵn lòng chào đón tay chơi mới Vietravel, trong vai trò nhà tổ chức tour, sẽ là một đối tác vàng của các hãng hàng không. Với lượng khách lớn, họ ở vị thếcó thể ép giá vé máy bay tới mức rất thấp. Về phần mình, trong bài toán kinh doanh, các hãng hàng không sẵn sàng bán một lượng vé giá khá rẻ, thậm chí bằng giá thành để đạt điểm hòa vốn hoặc giảm lỗ các giờ bay thấp điểm. Nhưng câu chuyện sẽ hoàn toàn khác với Vietravel Airlines, dù muốn hay không 3 hãng hàng không trên sẽ luôn để mắt đề phòng và có thể sẽ chuyển trọng tâm ủng hộ sang hãng lữ hành khác. Chưa kể việc lựa chọn căn cứ địa là sân bay Phú Bài (Huế) trong khi thị trường khách nội địa trọng điểm nằm ở Sài Gòn và Hà Nội, và điểm đến Huế cũng không quá nổi trội cho du khách trong và ngoài nước sẽ khó khăn tiếp theo với họ.

Số liệu thống kê kinh doanh lữ hành của Vietravel còn tệ hơn Thomas Cook. Với doanh số bán hàng năm 2018 lên tới 6,667 tỷ đồng, công ty chỉ đạt 397 tỷ lệ lợi nhuận gộp Tỷ lệ lợi nhuận gộp (gross margin), tương đương tỷ xuất chưa đầy 6% và tiếp theo là EBIT margin chỉ đạt 0,9%. Đây là con số đáng quan ngại cho các hoạt động đầu tư tương lai, nhất là hành không – lĩnh vực nhiều rủi ro. Dù về luật Vietravel Airlines là pháp nhân độc lập, nhưng việc công ty mẹ sử dụng các lợi thế doanh thu bảo lãnh cho công ty con là điều rất dễ xảy ra, trong đó việc đảm bảo các khoản vay bằng dòng tiền trong tương lai hoặc các hợp đồng kinh doanh là một ví dụ điển hình.

Bamboo Airway trong 3 tháng đầu kinh doanh lỗ 300 tỷ đồng. Kite Air có kế hoạch lỗ dự kiến hơn 350 tỷ. Vietravel Air huy động 700 tỷ với thời hạn trái phiếu chỉ có 24 tháng, có nghĩa 24 tháng sau toàn bộ nguồn vốn này phải hoàn trả cho trái chủ. Nếu không có một kế hoạch huy động vốn tiếp theo hợp lý hoặc có một tổ chức tài chính hùng mạnh hậu thuẫn phía sau, Vietravel Air sẽ phải đối mặt với bài toán dòng tiền rất căng thẳng.  Kite Air cũng không phải là trường hợp sáng sủa hơn dù không có các số liệu báo cáo tài chính công khai (do không phải công ty cổ phần đại chúng), công ty này có lịch sử nổi trội trong lĩnh vực du lịch inbound (trong nước) và không có nhiều kinh nghiệm cũng như lợi thế về tệp khách hàng nội địa như Vietravel.

Xu thế du lịch mới

Internet là một phát minh vĩ đại của con người và trong ngành du lịch với sản phẩm không hữu hình, tầm ảnh hưởng của nó là bậc nhất. Nhờ internet, con người xích lại gần nhau hơn, các mảnh đất vốn xa xôi huyền bí lại trở nên gần gũi và quen thuộc chỉ sau vài cú nhấp chuột. Điều này đã kích thích nhu cầu tiềm ẩn của khách du lịch: tự trải nghiệm và khám phá. Internet đã giúp ngành công nghiệp du lịch bùng nổ, nhưng mặt khác đã gián tiếp giết chết nhiều mô hình kinh doanh lữ hành truyền thống trước đây, mà Thomas Cook là một nạn nhân điển hình.

Airbnb, trang chia sẻ phòng ở gia đình cho khách du lịch hàng đầu thế giới, sau khi chiếm lĩnh mảng thị trường chia sẻ chỗ ở, năm 2016 đã đưa vào khái niệm mới: chia sẻ trải nghiệm (experience sharing). Hãy thử tưởng tượng bạn là một người mê ẩm thực và trong chuyến du lịch tới Paris, bạn đặt phòng qua Airbnb và ở với chủ nhà là một đầu bếp, trải nghiệm ẩm thực phố phường với chính chủ nhà – một chuyên gia địa phương. Đó sẽ là cảm xúc tuyệt vời mà ít công ty du lịch nào có thể cung cấp được.

Sau cả thập kỷ vật vã đối phó với việc mất khách hàng vào tay các gã khổng lồ bán vé máy bay và bán phòng trực tuyến như Expedia, Booking, Agoda, phần dịch vụ lữ hành, mảnh đất cuối cùng tuy nhỏ bé nhưng vẫn màu mỡ, tiếp tục bị xâm phạm. Nếu khách tự mua vé máy bay trực tiếp của hãng hàng hoặc qua kênh bán vé online danh tiếng, đến sân bay họ đặt taxi qua hàng tá ứng dụng trên Android và Apple, ở và đi chơi quanh thành phố với chủ nhà thì một câu hỏi lớn đặt ra: các công ty du lịch tồn tại để làm gì? Đây là một cú đánh trực diện ngang sườn các nhà tổ chức tour. Tại Việt Nam, may mắn tthay sản phẩm tour du lịch trọn gói vẫn có đất dụng võ, ít nhất trong 5 đến 10 năm nữa. Du khách Việt Nam, một phần hạn chế bởi khả năng sử dụng ngoại ngữ, một phần e ngại với những vùng đất xa lạ, lại có tâm lý thích tụ tập theo nhóm hẳn sẽ vẫn lựa chọn các tour cho chuyến đi của mình.

Thomas Cook, với dòng cách châu Âu có tính độc lập cao, đã không được may mắn như thế. Chịu trận dai dẳng suốt nhiều năm dưới áp lực của các mô hình kinh doanh mới, họ đã không kịp thay đổi để theo xu thế. Hệ thống trang web và bán hàng online cổ lỗ, không cập nhật xu hướng công nghệ mới, không quản trị và chia sẻ được các nguồn dữ liệu khách hàng với nhau; duy trì một chuỗi văn phòng bán lẻ ở các phố lớn sầm uất bậc nhất chỉ với chi phí vận hành đắt đỏ và lượng khách ghé thăm thưa thớt. Những điều này đã bào mòn lợi nhuận, vốn đã khá mỏng trong ngành lữ hành. Đây, đáng lo ngại thay, là con đường nhiều công ty lữ hành Việt Nam lựa chọn. Thông cáo báo chí của các công ty du lịch lớn luôn nêu tên số lượng văn phòng mới thành lập, quy mô nhân sự tuyển dụng mà ít khi đề cập tới các thành tựu công nghệ. Trang web của nhiều công ty mới chỉ dừng ở mức là một kênh quảng bá sản phẩm và chia sẻ thông tin, hơn là một kênh giao tiếp trực tuyến với khách hàng đúng nghĩa. Travel.com.vn, tự giới thiệu là trang web du lịch lớn nhất Việt Nam, chỉ tập trung vào mảng tour trọn gói đơn thuần. Mảng văn phòng tripu.vn của họ mới ra mắt năm ngoái, hiện vẫn là đại lý và sử dụng dữ liệu của Expedia cho việc đặt phòng.

Ivivu, trang web trực tuyến bán tour và dịch vụ của TMG, tập đoàn đang cùng với Vietravel xin giấy phép hàng không, có vẻ khá hơn. Họ đã có app trên Google Play Store và Apple App Store, dù chỉ hơn 10.000 lượt tải xuống . Vntrip – một công ty coi mình là OTA (online travel agency – đại lý du lịch trực tuyến), thành lập được 6 năm – vẫn đang chậm chạp với bước tiến của mình dù đã vài lần gọi vốn đầu tư mạo hiểm thành công, nâng tầm giá trị công ty lên tới 50 triệu USD. Trang web của họ vẫn duy trì chỉ mục duy nhất là phòng khách sạn và vẫn chỉ nhắm vào khách hàng Việt Nam.
Ctrip, công ty du lịch trực tuyến lớn nhất Trung Quốc, khởi nghiệp năm 2009 và vẫn trung thành đi theo con đường công nghệ của mình. Mô hình của họ rất thành công với doanh thu năm 2018 lên tới 4,5 tỷ USD. Dù có nguồn vốn thặng dư hàng tỷ USD  sau đợt bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), danh mục đầu tư mở rộng của Ctrip tập trung vào các công ty công nghệ như makemytrip của India, skyscanner của Ireland. Hoàn toàn vắng bóng các bất động sản du lịch như khách sạn, khu nghỉ dưỡng hay du thuyền hoặc hãng máy bay. Nền tảng của họ đã đạt tầm thế giới với việc tạo ra sàn giao dịch (marketplace) cho hàng ngàn nhà cung cấp, gồm cả đối tác bản địa Trung Quốc lẫn các công ty nước ngoài, cạnh tranh bình đẳng trên một sân chơi.

Việc phá sản của công ty lữ hành hay hãng hàng không, vì sự yếu kém hay chính sách sai lầm, là điều hết sức bình thường trong nền kinh tế thị trường. Với lịch sử ngành non trẻ, Việt Nam chưa chứng kiến công ty du lịch tầm cỡ phá sản, và vì thế cũng chưa có một án lệ xử lý việc này. Luật du lịch 2017 có quy định lữ hành là loại hình kinh doanh có điều kiện, và công ty lữ hành outbound/ inbound yêu cầu phải có 500 triệu/ 250 triệu ký quỹ tại ngân hàng  Với hơn 2.000 giấy phép lữ hành quốc tế đã được cấp, đây sẽ là một nguồn tài chính không hề nhỏ. Thực tế không có một hướng dẫn cụ thể việc sử dụng khoản tiền này cho trường hợp rủi ro. Điều may mắn là Luật du lịch có thêm quy định rất rõ về việc bắt buộc các công ty du lịch mua bảo hiểm cho khách của mình khi đi nước ngoài. Các công ty du lịch uy tín đều tính luôn phí bảo hiểm này vào trong giá chào bán cho khách. Với mức đền bù tối đa là 10.000 đến 100.000 USD tùy điểm đến, hợp đồng bảo hiểm bắt buộc này là một công cụ rất hữu ích để bảo vệ khách du lịch.

Người viết bài này luôn mong muốn và ủng hộ nhiệt thành ý tưởng dám nghĩ dám làm của các đàn anh trong nghề. Nếu ai cũng e ngại thì làm sao ra biển lớn mà thi thố. Nhưng hãy thử tưởng tượng một công ty du lịch hay một hãng hàng không cỡ vừa của Việt Nam tuyên bố phá sản trong khi còn vài chục ngàn khách du lịch kẹt ở nước ngoài. Đây không chỉ là câu chuyện về tiền bạc hay đền bù, mà sẽ là một cuộc khủng hoảng không hề nhẹ trong việc tổ chức đưa công dân về nước an toàn, nhất là việc áp dụng luật của Việt Nam còn có phần lỏng lẻo và kém đồng bộ.

Hãy ghi tâm và luôn nghĩ rằng một ngày nào đó mình sẽ lớn, và Việt Nam sẽ lọt vào top những nước gửi khách đi nước ngoài. Một kịch bản tốt sẵn sàng cho việc đối phó với rủi ro có thể xảy ra trong tương lai là điều mà các nhà quản lý nên bắt đầu tính tới.